Sửa đổi Luật Điện lực: Từ thực tiễn triển khai đến yêu cầu tháo gỡ điểm nghẽn
Sau gần 2 năm thực thi, Luật Điện lực năm 2024 đã bộc lộ những vướng mắc trong quá trình triển khai dự án, đàm phán hợp đồng mua bán điện và phát triển các mô hình cung ứng điện mới. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu sửa đổi luật theo hướng xác định đúng điểm nghẽn, xử lý những bất cập có căn cứ, bảo đảm các quy định mới có thể thực thi đồng bộ.
Những vướng mắc cần tháo gỡ
Luật Điện lực số 61/2024/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 30/11/2024, có hiệu lực từ ngày 1/2/2025, tạo cơ sở pháp lý cho phát triển nguồn điện, vận hành hệ thống điện và thị trường điện. Tuy nhiên, quá trình triển khai cho thấy một số quy định cần tiếp tục hoàn thiện, nhất là trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, cơ cấu nguồn thay đổi và khu vực tư nhân tham gia ngày càng sâu vào đầu tư hạ tầng năng lượng.
Một trong những vướng mắc đáng chú ý là sự giao thoa giữa Luật Điện lực với pháp luật về đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường và quy hoạch. Các dự án điện quy mô lớn phải trải qua nhiều thủ tục ở những giai đoạn khác nhau. Khi trình tự chưa thống nhất, trách nhiệm xử lý chưa rõ, tháo gỡ một vướng mắc không đồng nghĩa với việc dự án có thể chuyển sang bước tiếp theo.

Quy mô danh mục dự án cho thấy, yêu cầu tháo gỡ không chỉ nằm ở một thủ tục riêng lẻ, mà còn đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các quy định pháp luật và cơ quan có thẩm quyền. Nếu các khâu chưa được liên thông, việc rút ngắn một bước có thể chưa tạo ra chuyển biến thực chất về tiến độ đầu tư.
Bên cạnh thủ tục, cơ chế giá điện và hợp đồng mua bán điện cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu xếp vốn. Tính khả thi về tài chính của dự án không chỉ phụ thuộc vào giá bán điện, mà còn liên quan đến sản lượng được huy động, thời hạn hợp đồng, trách nhiệm thanh toán và cách phân bổ rủi ro.
Đối với điện khí LNG, bài toán này gắn chặt với hợp đồng cung cấp nhiên liệu dài hạn, sản lượng điện được bao tiêu và khả năng thu hồi chi phí. Trong quá trình góp ý dự thảo sửa đổi Luật Điện lực, đại diện Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PETROVIETNAM) đã đề cập đến khó khăn khi đàm phán hợp đồng LNG cho các dự án Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4, trong đó có sản lượng điện hợp đồng tối thiểu và sự phù hợp giữa cơ chế huy động nhà máy với nghĩa vụ mua nhiên liệu.
Hợp đồng nhiên liệu thường đòi hỏi cam kết dài hạn, trong khi việc huy động nhà máy phụ thuộc nhu cầu hệ thống và điều độ. Nếu hợp đồng điện không tương thích với nghĩa vụ nhiên liệu, nhà đầu tư có thể phải chịu rủi ro chi phí ngay cả khi nhà máy đã hoàn thành. Vì vậy, cơ chế hợp đồng cần phản ánh đặc điểm kỹ thuật, thương mại của từng loại nguồn điện, đồng thời tạo cơ sở để các bên dự báo và phân bổ rủi ro.
Một vấn đề khác là mối quan hệ giữa kết quả lựa chọn nhà đầu tư và quá trình đàm phán giá điện. Theo khoản 2 Điều 19 Luật Điện lực năm 2024, giá trúng thầu được sử dụng làm mức giá tối đa để đàm phán hợp đồng mua bán điện. Đại diện Công ty Cổ phần Xây dựng công trình IPC cho biết, việc tiếp tục đàm phán giá sau đấu thầu có thể phát sinh chi phí, kéo dài thời gian hoàn tất hợp đồng và ảnh hưởng đến tính chắc chắn của phương án đầu tư.
Từ các trường hợp trên, vấn đề đặt ra là bảo đảm sự nhất quán giữa quy trình lựa chọn nhà đầu tư, nguyên tắc cạnh tranh và khả năng thực hiện hợp đồng. Kết quả đấu thầu cần tạo cơ sở đủ rõ để các bên tiến tới ký kết hợp đồng, hạn chế những bất định có thể làm gia tăng chi phí hoặc kéo dài thời gian triển khai dự án.
Ở phía sử dụng điện, nhu cầu về cơ chế linh hoạt hơn cũng ngày càng rõ. Tập đoàn Hòa Phát kiến nghị nghiên cứu cơ chế chia sẻ điện qua đường dây riêng cho các nhà máy phụ trợ hoặc cơ sở liên kết trong cùng khu công nghiệp, khu kinh tế; mở rộng đối tượng tham gia cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) qua lưới kết nối riêng đối với nguồn điện thu hồi từ khí dư, nhiệt dư công nghiệp.
Doanh nghiệp cũng đề xuất nghiên cứu khung giá trần bán buôn điện trong khu công nghiệp, tạo dư địa thỏa thuận và khuyến khích đầu tư tư nhân vào hạ tầng phân phối. Những kiến nghị này phản ánh nhu cầu phát triển các mô hình tự chủ năng lượng, kinh tế tuần hoàn và chia sẻ nguồn điện tại chỗ.
Tuy nhiên, mở rộng quyền chia sẻ điện cần đi cùng quy định rõ về phạm vi, trách nhiệm vận hành, an toàn hệ thống và bảo vệ khách hàng. Đây cũng là yêu cầu để các mô hình mới có thể triển khai trong khuôn khổ pháp lý minh bạch, thay vì phát sinh những cách hiểu và cách áp dụng khác nhau.
Ở chiều ngược lại, các nhà đầu tư phát điện quan tâm đến rủi ro trong quá trình chuẩn bị và vận hành dự án. Công ty TNHH Điện lực Vân Phong cho rằng, cắt giảm thủ tục chỉ thực sự hiệu quả nếu các bước tiếp theo được hướng dẫn đầy đủ, tránh khoảng trống pháp lý và bảo đảm phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành.
Từ thủ tục đầu tư đến hợp đồng mua bán điện, từ nhu cầu chia sẻ điện tại chỗ đến rủi ro của nhà đầu tư, các kiến nghị cho thấy yêu cầu hoàn thiện luật không chỉ là xử lý từng trường hợp riêng lẻ. Điều quan trọng hơn là xác định được những điểm nghẽn có tính hệ thống, từ đó thiết kế quy định rõ ràng, đồng bộ để các bên có thể thực hiện và xác định được trách nhiệm của mình.
Sửa luật, tháo gỡ vướng mắc từ thực tiễn
Theo Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực liên quan đến 49/81 điều của Luật Điện lực hiện hành. Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị rà soát toàn diện, chỉ sửa những nội dung thực sự cấp thiết, có đủ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn; hạn chế điều chỉnh những vấn đề chưa được đánh giá tác động đầy đủ.
Yêu cầu này đòi hỏi cần xác định rõ trọng tâm sửa đổi: quy định nào đang gây trở ngại, vướng mắc phát sinh ở khâu nào và việc điều chỉnh có thực sự giải quyết được vấn đề hay không. Phạm vi sửa đổi rộng không đồng nghĩa với hiệu quả cao nếu thiếu căn cứ thực tiễn.

Rút ngắn quy trình đầu tư cũng phải bảo đảm liên thông với thủ tục đất đai, xây dựng, môi trường, quy hoạch và các yêu cầu về quốc phòng, an ninh. Nếu không xác định rõ trách nhiệm phối hợp, việc cắt giảm một khâu có thể chỉ chuyển vướng mắc sang khâu khác, chưa tạo ra thay đổi thực chất đối với tiến độ dự án.
Với cơ chế giá điện, ông Nguyễn Hồng Diên đề nghị xác định cụ thể nội hàm, phạm vi và lộ trình xóa bỏ bù chéo; đồng thời phân biệt việc xóa bù chéo trong cơ chế giá với chính sách hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách hoặc nguồn hợp pháp khác cho hộ nghèo, hộ chính sách và người dân ở địa bàn khó khăn.
Các quy định về bù đắp chi phí khi giá điện chưa kịp điều chỉnh cũng cần làm rõ nguồn kinh phí, chủ thể chịu chi phí và phương thức hạch toán, kiểm toán, hoàn trả. Hoàn thiện cơ chế thị trường phải tính đến khả năng chi trả của người dân, tính minh bạch và giới hạn nghĩa vụ tài chính của Nhà nước.
Việc sửa đổi Luật Điện lực vì vậy bắt đầu từ những vướng mắc đã được nhận diện qua thực tiễn, đồng thời bảo đảm sự thống nhất với các quy định pháp luật liên quan. Hiệu quả của lần sửa đổi không nằm ở số lượng điều khoản được điều chỉnh, mà ở khả năng đưa quy định vào cuộc sống: giúp dự án triển khai thuận lợi hơn, tạo điều kiện thu hút nguồn lực đầu tư và phân định minh bạch trách nhiệm, rủi ro giữa các bên tham gia thị trường điện.